Thứ Bảy, 14 tháng 1, 2023

Cuốn Gia phả bằng chữ Quốc ngữ (1)

Năm 1958, cuốn Gia phả của dòng họ Tạ Thư Điền được cụ Tạ Ngọc Lân đời thứ Mười Hai, ngành 6 Chi 4 dịch từ chữ Hán ra chữ Quốc ngữ và viết tiếp bổ sung. 

Cuốn Gia phả này được viết tay trên giấy được lưu truyền trong dòng họ và từ đó được hoàn chỉnh bổ sung nhiều lần. Đến nay, những trang viết của cuốn Gia phả này đã được ông Tạ Văn Kha đời thứ Mười Bốn, ngành 6 Chi 4 sao chép, phục chế và lưu giữ cẩn thận.

Để cuốn Gia phả đầu tiên này được lưu truyền rộng rãi trong dòng họ, trang thông tin dòng họ đã chuyển toàn bộ các trang của Gia phả sang hình ảnh và đưa lên trong bài viết này.

Toàn bộ cuốn Gia phả gồm 120 trang nên trang thông tin lần lượt thể hiện dưới đây:


Nhời tựa bản Gia phả họ Tạ

Nghĩ như: mọi vật gốc tự đất trời, mà hóa sinh không dứt, người ta gốc tự tổ tôn, mà sinh hóa không cùng. Tôn phái của người ta cũng như mọi vật của trời đất vậy.

Họ ta từ khi gây dựng vun đắp đến nay, con con cháu cháu, như cây có ngàn cành muôn lá, như nước có lắm lạch nhiều sông, sự phồn diễn thịnh đại há chẳng ghi chép lấy để lưu truyền mãi mãi về sau ru?

Tôi là cháu xa đời, tìm tòi trên mười đời, nguyên lưu chi phái, thế hệ trước sau ghi chép vào một bản gọi là gia phả. Ôi! Nhà có bản gia phả cũng như trời có nhật nguyệt tinh tú, đất có sông núi cỏ cây vậy. Dưới ngàn muôn đời, trông thấy hình ảnh của giăng sao sông núi cỏ cây thì biết nguyên lưu của họ ta vẫn còn mãi mãi ở đó, vậy ghi chép lấy. Nay tựa.

Ngày tháng manh thu năm Tân Sửu là năm đầu của đời Thiệu Trị.

Cháu đời thứ mười: Kinh trúng Nhị trường kiêm Tổng Giảng hiệu là Thanh Hiên (Ngọc Súy) kính chép soạn.

Đến: Ngày tháng manh xuân năm Tân Tị là năm thứ ba mười tư của đời Tự Đức.

Em ruột: Kinh trúng Nhất Nhị trường kiêm Văn hội trưởng hiệu là Ôn Như (Ngọc Tiệp) chép lần thứ hai.

Đến: Sau ngày Đông Chí năm thứ tư của đời Duy Tân. Con cả là Ngọc Điến vâng mạnh Tôn trưởng, nối chí cha chú chép lần thứ ba.

Đến: Năm 1958. Cháu là Ngọc Thâm phiên dịch ra bản quốc ngữ và tục biên thêm.

Đời thứ Nhất: Cụ Tạ Đình Ninh (Sơ hoàng Thủy tổ) Làm Thập lý hầu (tức là Cai xã, xã trưởng hay Lý trưởng). Sinh cụ Đô.

Đời thứ 2: Cụ Tạ Đình Đô. Chức Quan viên phụ. Sinh cụ Đoan, cụ Thiêm.

Đời thứ 3: Cụ Tạ Đình Đoan. Chức Quan viên phụ. Sinh cụ Thiều. 

Đời thứ 4: Cụ Tạ Đình Thiều. Được phong tước là Thiều Dương Hầu. Sinh cụ Lập. 

Đời thứ 5: Cụ Tạ Đình Lập. Chức Ấm sinh. Sinh cụ Trường, cụ Chức. 

Đời thứ 6: Cụ Tạ Đình Trường. Sinh cụ Côn và cụ Nhâm. 

Đời thứ 7: Cụ Tạ Ngọc Côn. Làm Tri sự Chức. Sinh cụ Diễm, cụ Dịch, cụ Lạn. 

Đời thứ 8: Cụ Tạ Ngọc Diễm, cụ Dịch, cụ Lạn đều không có con giai. 

Đời thứ 7: Cụ Tạ Đình Nhâm. Làm Cai hợp. Sinh cụ Toán, cụ Kiêu. 

Đời thứ 8: Cụ Tạ Đình Toán. Sinh cụ Căng. 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Đình Căng. Sinh cụ Giang, cụ Hải (cụ Hải không có con giai). 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Đình Giang. Sinh cụ Thanh, cụ Hương. 

Đời thứ 11: Cụ Tạ Đình Thanh. Sinh Tạ Lịch và Tạ Thiệp. 

Đời thứ 12: Ông Tạ Lịch. Sinh Tạ Phiệt. 


Đời thứ 13: Tạ Phiệt 


Đời thứ 12: Ông Tạ Thiệp. Lính tập. Sinh Tạ Trắc, Tạ Bộ. 

Đời thứ 13: Tạ Trắc. Nhiêu nam. Sinh Tạ Chiều. 

Đời thứ 14: Tạ Xuân Chiều.

Đời thứ 13: Tạ Bộ. Sinh Tạ Bệ, Tạ Hạ, Cừ. 

Đời thứ 14: Tạ Bệ, Tạ Cừ.


Đời thứ 14: Tạ Hạ.

                   Tạ Cừ


Đời thứ 11: Cụ Tạ Đình Hương. Sinh Tạ Phấn. 

Đời thứ 12: Ông Tạ Phấn. Làm Khán sự. Sinh Tạ Điểm.

Đời thứ 13: Tạ Điểm. Sinh Thẩm.

Đời thứ 14: Tạ Đình Thẩm.


Đời thứ 8: Cụ Tạ Đình Kiêu. Chức Đội trưởng, Bá Hộ, được phong Phấn dũng Tướng quân. Sinh cụ Thạch, cụ Bân, cụ Tần (Cụ Bân và cụ Tần không có con giai). 


Đời thứ 9: Cụ Tạ Đình Thạch. Sinh cụ Khiên, cụ Chiên, cụ Hành, cụ Bẩy (Cụ Khiên và cụ Chiên không có con giai).

Đời thứ 10: Cụ Tạ Hành. Hương nhiêu. Sinh cụ Trí.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Đại Trí. Khán sự. Sinh Tạ Mưu, Tạ Kế, Tạ Bào (Tạ Mưu, Tạ Kế không có con giai).

Đời thứ 12: Ông Tạ Bào. Sinh Tạ Chàng.

Đời thứ 13: Tạ Chàng.   

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Bẩy. Hương nhiêu. Sinh Tạ Lếu.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Sếu. Khán sự. Sinh Tạ Tiếu.

Đời thứ 12: Ông Tạ Tiếu. Lính tập. Sinh Tạ Úc, Bình, Ngồng, Nghềnh.

Đời thứ 13: Tạ Úc.

Đời thứ 13: Tạ Bình.

 

Đời thứ 6: Cụ Tạ Đình Chức (con thứ 2 cụ Lập). Làm Trùm trưởng. Sinh cụ Quất, cụ Hồ, cụ Man (cụ Man mất sớm).

Đời thứ 7: Cụ Tạ Quất. Sinh cụ Vàng.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Vàng (làm con nuôi người làng Tiểu Hoàng). Sinh cụ Năng.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Năng. Sinh cụ Xe.


Đời thứ 7: Cụ Tạ Ngọc Hồ. Thi đỗ Hiệu sinh (tức Tú tài). Sinh cụ Phạn.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Ngọc Phạn. Sinh cụ Nhẫm.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Nhẫm. Sinh cụ Ứng.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Ứng. Sinh cụ Đản.

 

Phân phái Từ đường

Đời thứ 3: Cụ Tạ Đình Chiêm tức Đồng (con thứ 2 cụ Đô). Chức Điện Tiền Đô chỉ huy sứ. Được phong tước Đồng Khê Hầu. Sinh cụ Quỳnh, cụ Lưu.

Đời thứ 4: Cụ Tạ Ngọc Quỳnh. Được phong tước Cậu kê Quỳnh đức hầu (mộ ở phía tây Chùa. Đến hàng cháu thứ 11 đời mở ra thăm thì xương cốt vẫn còn rắn và trắng). Sinh cụ Lạng và cụ Thống.

Đời thứ 5: Cụ Tạ Đình Lạng. Chức Chánh đội trưởng. Được phong tước Lạng hoàng hầu (mộ ở Đại Hiếu). Sinh cụ Hân, cụ Trọng, cụ Trân.

Đời thứ 6: Cụ Tạ Đình Hân. Làm Cai xã. Được phong tước Hân dị Nam. Sinh cụ Ru, cụ Kỳ.

Đời thứ 7: Cụ Tạ Ngọc Ru. Chức Tướng sĩ lang Sở sứ. Được phong tước Ru đường Nam. Sinh cụ Cầu.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Ngọc Cầu. Nhiêu Nam. Sinh cụ Duyên.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Đình Duyên. Chức Huyện thừa huyện Kim Sơn. Sinh cụ Nguyên, cụ Siêu (Cụ Nguyên không có con giai).

Đời thứ 10: Cụ Tạ Đình Siêu. Sinh cụ Dong và cụ Sênh, cụ Chu, cụ Suy (Cụ Dong và cụ Suy không có con giai).

Đời thứ 11: Cụ Tạ Sênh. Sinh Tạ Sản, Tạ Khôi.

Đời thứ 12: Tạ Sản.   

 

Đời thứ 7: Cụ Tạ Kỳ. làm Thập lý hầu. Sinh cụ Tân.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Ngọc Tân. Sinh cụ Tú, cụ Lực, cụ Thiện, cụ Dưỡng.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Trường Tú. (Ra lập ấp Diêm Trì). Sinh cụ Bằng, cụ Sùng, cụ Trinh.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Bằng. Thi đỗ Tú tài. Sinh cụ Bồi, cụ Chiêu, cụ Năm.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Bồi. Ba lần thi đỗ Tú tài. Được bổ chức Bang Biện bộ Công. (Cụ là người tài hoa hơn đời, không may không có con giai.

 

Đời thứ 11: Cụ Tạ Chiêu. Sinh Tạ Kiên.

Đời thứ 12: Ông Tạ Kiên. Khán sự. Sinh Tạ Lạp, Tạ Thung.

Đời thứ 13: Tạ Lạp. Sinh Tạ Lẫm tức Minh.

Đời thứ 14: Tạ Lẫm. Vệ Quốc quân. Sinh Thanh.

Đời thứ 15: Tạ Thanh.

 

Đời thứ 13: Tạ Thung.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Sùng tức Quang Huy (Ra lập ấp Diêm Trì). Chánh Đội trưởng. Sinh cụ Canh.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Canh. Làm Xã trưởng. Sinh Tạ Khái, Tạ Khang (Tạ Khái không có con giai).

Đời thứ 12: Tạ Khang. Nhang mục. Sinh Tạ Tình.

Đời thứ 13: Tạ Tình. Lính tập. Sinh Tạ Hằng, Tạ Dy và Tạ Thỉnh.

Đời thứ 14: Tạ Hằng. Phó hào. Sinh Tạ Dực, Tạ Hiên.

Đời thứ 15: Tạ Chiêu tức Dực. Thường vụ T.N. xã. Sinh Tạ Phụ, Đình Đăng.

 

Đời thứ 15: Tạ Hiên.

 

Đời thứ 14: Tạ Dy. Lính tập. Đi đâu mất tin.

 

Đời thứ 14: Tạ Thỉnh. Sinh Tạ Hồi.

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Trinh (Ra lập ấp Diêm Trì). Làm Tuần huyện, thăng Thơ lại. (Không có con giai).


Đời thứ 9: Cụ Tạ Lực (con thứ 2 cụ Tân). Sinh cụ Nho, cụ Ngự, cụ Huấn.

Đời thứ 10: Cụ Nho.

 

Đời thứ 10: Cụ Ngự.

 

Đời thứ 10: Cụ Huấn. Sinh cụ Thị. Không có con giai.

 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Thiện (con thứ 3 cụ Tân).

 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Dưỡng (con thứ 4 cụ Tân). Sinh cụ Truyền, cụ Lĩnh.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Truyền. Làm Xã trưởng. Sinh cụ Thiết.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Thiết. Làm Xã trưởng. Sinh Tạ Sơ.

Đời thứ 12: Tạ Sơ. Sinh Tạ Đúc.

Đời thứ 13: Tạ Đúc.


Đời thứ 10: Cụ Tạ Lĩnh. Sinh cụ Châu.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Châu. Làm Đoàn xã. Sinh Tạ Điến, Tạ Điển, Tạ Vận, Tạ Kình, Tạ Hồ, Tạ Bảo.

Đời thứ 12: Tạ Điến. Bát phẩm Đội trưởng. Sinh Tạ Viện.

Đời thứ 13: Tạ Viện. Sinh Tạ Việt.

Đời thứ 14: Tạ Việt.

 

Đời thứ 12: Tạ Điển.

 

Đời thứ 12: Tạ Vận.

 

Đời thứ 12: Tạ Quỳnh (Kình).


Đời thứ 12: Tạ Hồ. Sinh Tạ Tuynh, Tạ Tâm.

Đời thứ 13: Tạ Ngọc Tuynh.

 

Đời thứ 13: Tạ Minh Tâm.

 

Đời thứ 12: Tạ Bảo.

 

Đời thứ 6: Cụ Tạ Đình Trọng (con thứ 2 cụ Lạng. Hoằng Hầu). Được phong tước Trọng Lĩnh Nam. Sinh cụ Tiêu, cụ Uyển.

Đời thứ 7: Cụ Tạ Ngọc Tiêu. Quan viên tử. Sinh cụ Nhương.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Nhương. Làm Đội trưởng. Con nuôi là cụ Bảng.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Bảng. Sinh cụ Tháo, cụ Quynh, cụ Ba (cụ Tháo, cụ Quynh không có con giai).

Đời thứ 10: Cụ Tạ Ba. Sinh Tạ Định, Tạ Na (đều không có con).

 

Đời thứ 7: Cụ Tạ Uyển. Sinh cụ Đại.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Đại. Sinh cụ Nhiên.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Nhiên. Sinh cụ Năng, cụ Cần, cụ Hài, cụ Hàn, cụ Niên.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Năng. Sinh cụ Trấp, cụ Đản (đều không có con giai).

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Cần. Làm Lý trưởng. Sinh cụ Hậu.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Hậu. Sinh Tạ Huệ.

Đời thứ 12: Tạ Huệ. Làm Phó lý. Sinh Tạ Thống, Tạ Ân (Tạ Ân không có con giai).

Đời thứ 13: Tạ Chính Thống. Làm Phó lý. Sinh Tạ Kỷ, Tạ Cơ, Tạ Phùng, Tạ Uẩn, Tạ Chức.

Đời thứ 14: Tạ Kỷ. Sinh Tạ Kế, Tạ Trù, Tạ Hội.

Đời thứ 15: Tạ Kế.

 

Đời thứ 15: Tạ Trù. Sinh Tạ Mâu.

Đời thứ 16: Tạ Mâu.

 

Đời thứ 15: Tạ Hội. Sinh Tạ Hè.

Đời thứ 16: Tạ Hè.

 

Đời thứ 14: Tạ Cơ.


Đời thứ 14: Tạ Phùng. Sinh Tạ Cấp.

 

Đời thứ 14: Tạ Uẩn.

 

Đời thứ 14: Tạ Chức.

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Hài. Làm Xã trưởng, làm Tinh binh Đội trưởng. Sinh cụ Ruệ.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Ruệ. Sinh Tạ Bản (không có con giai).

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Hàn. Sinh cụ Nhung.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Nhung. Con nuôi là Tạ Thủy.

Đời thứ 12: Tạ Thủy. Sinh Tạ Tỵ.

Đời thứ 13: Tạ Tỵ.   

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Niêm. Sinh cụ Viêm, cụ Cúc. Cụ Viêm không có con giai.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Cúc. Sinh Tạ Kích.

Đời thứ 12: Tạ Kích. Làm Phó lý. Sinh Tạ Đương, Tạ Phụng.

Đời thứ 13: Tạ Đương. Sinh Tạ Ruẫn.

Đời thứ 14: Tạ Ruẫn. Sinh Đức, Ơn, Thiện Thuấn, Thiện Ái.

 

Đời thứ 13: Tạ Phụng. Sinh Tạ Thái, Tạ Cừu.

Đời thứ 14: Tạ Thái. Sinh Tạ Thấn.

Đời thứ 15: Tạ Thấn.

 

Đời thứ 14: Tạ Cừu.

 

Đời thứ 6: Cụ Tạ Đình Trân (con út cụ Lạng Hoàng Hầu) hiệu là Thanh điền tiên sinh. Thi đỗ Mậu tài (tức Tú tài). Họ ta về đường khoa cử thì cụ là người đỗ trước nhất nên còn gọi là cụ Phát Khoa. Sinh cụ Trật, cụ Thụy, cụ Ruyến, cụ Can, cụ Tế. Con cái đều hiển đạt.

Đời thứ 7: Cụ Tạ Đình Trật. Chức Điện tiền Tiến công lang, Điển ngục thừa. Sinh cụ Mạo, cụ Xuân, cụ Khuê.

Đời thứ 8: Cụ Tạ Ngọc Mạo. Ấm sinh, thăng Huyện thừa. Sinh cụ Tước, cụ Thiệu, cụ Đằng.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Đình Tước. Mậu Lâm lang. Điện tiền Thiếu Khanh. Sinh cụ Oánh, Phẩm.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Ngọc Oánh. Ấm sinh làm Xã trưởng. Cụ không có con giai.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Phẩm. Hương đồ. Sinh cụ Ruyện và cụ Vĩnh (cụ Vĩnh không có con giai)

Đời thứ 11: Cụ Tạ Ruyện. Sinh Tạ Thốn.

Đời thứ 12: Tạ Thốn. Sinh Tạ Phiến, Tạ Xuyến.

Đời thứ 13: Tạ Phiến. Sinh Tạ Tuấn.

Đời thứ 14: Tạ Minh Tuấn.

 

Đời thứ 13: Tạ Xuyến. Vệ Quốc quân.

 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Ngọc Thiệu. Thi đỗ Hiệu sinh (tức Tú tài). Sinh cụ Quán, cụ Lãng.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Quán. Học sinh. Sinh cụ Lệnh, cụ Bỉnh, cụ Hưu (cụ Hưu không có con giai).

Đời thứ 11: Cụ Tạ Lệnh. Hương đồ. Sinh Tạ Thanh, Tạ Vưu, Tạ Nại, Tạ Lật.

Đời thứ 12: Tạ Thanh. Hương đồ. Sinh Tạ Giả.

Đời thứ 13: Tạ Giả. Hương đồ. Sinh Tạ Thư, Tạ Tự (Tạ Tự không có con giai).

Đời thứ 14: Tạ Thư. Sinh Tạ Ruynh, Tạ Hoài, Tạ Thuần.

Đời thứ 15: Tạ Ruynh. Sinh Tạ Chiến, Tạ Viên.

Đời thứ 16: Tạ Chiến.


Đời thứ 16: Tạ Viên.

 

Đời thứ 16: Tạ

 

Đời thứ 15: Tạ Hoài. Sinh Tạ Huân.

Đời thứ 16: Tạ Huân tức Ngớ   

   

Đời thứ 15: Tạ Thuân.

   

Đời thứ 12: Tạ Vưu. Hương nhiêu. Sinh Tạ Chước.

Đời thứ 13: Tạ Tiên Chước. Quản xã. Sinh Tạ Huyễn, Tạ Tụy, Tạ Tập đều không có con giai.

 

Đời thứ 12: Tạ Nại. Quản xã. Sinh Tạ Vượng.

Đời thứ 13: Tạ Đức Vượng. Khóa sinh. Sinh Tạ Bân, Tạ Ứng.

Đời thứ 14: Tạ Bân. Sinh Tạ Thuân.

Đời thứ 15: Tạ Thuân.

 

Đời thứ 14: Tạ Ứng. Sinh Tạ Bản.

Đời thứ 15: Tạ Bản.

 

Đời thứ 12: Tạ Lật. Làm con nuôi cụ Huyện Cẩm Thủy họ Lê, không có con giai.

 

Đời thứ 11: Cụ Tạ Bỉnh. Hương đồ. Sinh Tạ Truyền.

Đời thứ 12: Tạ Truyền. Quản xã. Sinh Tạ Lược, Tạ Triệu.

Đời thứ 13: Tạ Hữu Lược. Sinh Tạ Rụ, Tạ Thập.

Đời thứ 14: Tạ Rụ. Sinh Tạ Nhã.

Đời thứ 15: Tạ Nhã.

 

Đời thứ 14: Tạ Thập.

 

Đời thứ 13: Tạ Triệu. Sinh Tạ Nhung không có con giai.

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Lãng. Học sinh. Sinh cụ Quýnh, cụ Hạnh, cụ Tuyến, cụ Ruật. Cụ Tuyến không có con giai.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Quýnh. Hương đồ. Sinh Tạ Thuật, Tạ Dục.

Đời thứ 12: Tạ Thuật. Sinh Tạ Bật, Tạ Chí, Tạ Bính.

Đời thứ 13: Tạ Bật. Sinh Thanh, Phùng đi mất tin.

Đời thứ 13: Tạ Chí. Sinh Tạ Cường.

Đời thứ 14: Tạ Cường.

 

Đời thứ 13: Tạ Bính. Sinh Tạ Thuyên.

Đời thứ 14: Tạ Thuyên.

 

Đời thứ 12: Tạ Khắc Dục. Sinh Tạ Trường.

Đời thứ 13: Tạ Trường. Sinh Tạ Thắng.

Đời thứ 14: Tạ Thắng tức Thăng.

Đời thứ 11: Tạ Hạnh. Sinh Tạ Luận.

Đời thứ 12: Tạ Luận. Sinh Tạ Luân, Tạ Sửu, Tạ Kiển.

Đời thứ 13: Tạ Luân. Sinh Lý.

Đời thứ 14: Tạ Quang Lý.

 

Đời thứ 13: Tạ Sửu. Vệ Quốc quân. Sinh Tạ Yêng, Tạ Dấng.

Đời thứ 14: Tạ Yêng tức Ngớ.

 

Đời thứ 14: Tạ Quang Dấng.

 

Đời thứ 13: Tạ Kiển.

 

Đời thứ 11: Cụ Tạ Tuyến. Khán sự (không có con).

 

Đời thứ 11: Cụ Tạ Ruật. Phó lý. Sinh Tạ Tất, Tạ Quất, Tạ Tuyển.

Đời thứ 12: Tạ Ngọc Tất. Tuyển sinh

 

Đời thứ 12: Tạ Quất. Lính tập.

 

Đời thứ 12: Tạ Tuyển. Trương tuần. Sinh Tạ Nam, Tạ Bắc.

Đời thứ 13: Tạ Trung Nam.

 

Đời thứ 13: Tạ Chính Bắc.

 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Đằng (con út cụ Mạo). Thày thuốc. Sinh cụ Giác, cụ Nhàn.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Ngọc Giác hoặc Giốc. Thày thuốc. Sinh cụ Thận, cụ Thiêm.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Thận. Thày thuốc, không có con giai.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Thiêm. Thày thuốc. Sinh Tạ Bái, Tạ Thung.

Đời thứ 12: Tạ Bái. Quản xã. Sinh Tạ Lãm.

Đời thứ 13: Tạ Lãm. Sinh Tạ Đam.

Đời thứ 14: Tạ Đam. Sinh Rung.

Đời thứ 15: Tạ Xuân Rung.

 

Đời thứ 12: Tạ Kim Chung. Sinh Tạ Chinh.

Đời thứ 13: Tạ Chinh. Sinh Liên, Thanh.

Đời thứ 14: Tạ Ngọc Liên.

 

Đời thứ 14: Tạ Xuân Thanh.

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Nhàn. Hương đồ. Sinh cụ Roãn, cụ Đoàn.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Roãn. Học sinh. Sinh Tạ Hữu.

Đời thứ 12: Tạ Đại Hữu. Hương sơ. Sinh Tạ Khánh.

Đời thứ 13: Tạ Khánh. Sinh Tạ Phước.

Đời thứ 14: Tạ Phước. Sinh Vụ, Phụ.

Đời thứ 15: Tạ Vụ,

                   Tạ Ngọc Phụ

 

Đời thứ 13: Tạ Khắc Thiệu. Hương đồ. Sinh Tạ Thoan.

Đời thứ 14: Tạ Thoan.

   

Đời thứ 11: Cụ Tạ Đoàn. Hương đồ. Sinh Tạ Ban và Tạ Chuyên.

Đời thứ 12: Tạ Văn Ban. Quản xã. Sinh Tạ Giốc, Tạ Phả.

Đời thứ 13: Tạ Giốc. Lý hào. Sinh Tạ Tăng.

Đời thứ 14: Tạ Tăng. Vệ Quốc quân.

 

Đời thứ 13: Tạ Pha. Lính tập.

Đời thứ 12: Tạ Quý Chuyên. Quản xã. Sinh Tạ Liễn, Tạ Tải, Tạ Tại (Tạ Tải, Tạ Tại không có con giai).

Đời thứ 13: Tạ Ngọc Liễn. Khán sự. Sinh Tạ Đèn.

Đời thứ 14: Tạ Đèn. Vệ Quốc quân. Sinh Đăng, Yên.

Đời thứ 15: Tạ Văn Đăng.

Đời thứ 15: Tạ Vĩnh Yên.

 

Đời thứ 8: Cụ Tạ Đình Xuân (con thứ cụ Chật). Ấm lang tướng (Bộ tướng của cụ Lân dương hầu Bác Trạch). Cụ sức khỏe hơn người lại giỏi môn thuốc ngoại khoa. Sinh cụ Nham.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Đình Nham. Đỗ Tú tài. Sinh cụ Khiết và cụ Xoang.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Khiết. Sinh cụ Trứ.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Đình Trứ (Điên rượu). Sinh Tạ Săm, Tạ Quỷnh, Tạ Ngỡi. Tạ Săm làm con nuôi người họ Phạm ở xã Phú Nghĩa hạ huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Đời thứ 12: Tạ Quỷnh. Khán sự. Sinh Tạ Quất, Tạ Kha, Tạ Khả tức Bật.

Đời thứ 13: Tạ Kha. Sinh Tạ Tuyên, Tạ Cò.

Đời thứ 14: Tạ Tuyên. Vệ Quốc quân.

Đời thứ 14: Tạ Cò. 

Đời thứ 12: Tạ Ngỡi. Nhang trưởng. Sinh Tạ Dần, Tạ Thìn.

Đời thứ 13: Tạ Dần. Lý hào. Sinh Tạ Ri.

Đời thứ 14: Tạ Ri. Vệ Quốc quân. Sinh Thu, Tiến.

Đời thứ 15: Tạ Xuân Thu.

Đời thứ 15: Tạ Đình Tiến.

 

Đời thứ 13: Tạ Thìn. Lý Hào. Sinh Tạ Than, Tạ Bài, Tạ Thắng, Tạ Toản.

Đời thứ 14: Tạ Đình Than.

Đời thứ 14: Tạ Đình Bùi. 

Đời thứ 14: Tạ Đình Thắng.

Đời thứ 14: Tạ Đình Toán.

 

Đời thứ 10: Cụ Tạ Đình Xoang. Làm Lý trưởng. Sinh cụ Trấn.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Trấn. Làm Phó lý. Sinh Tạ Quí.

Đời thứ 12: Tạ Trường Quí. Khóa sinh. Sinh Tạ Quĩ, Tạ Giá, Tạ Trách, Tạ Bôn.

Đời thứ 13: Tạ Trung Quĩ tức Sâm. Phó hào. Sinh Tạ Quy.

Đời thứ 14: Tạ Bá Quy. Vệ Quốc quân.

 

Đời thứ 13: Tạ Trạch tức Quì. Trương tuần. Sinh Tạ Ty.

Đời thứ 14: Tạ Ty. Vệ Quốc quân. Sinh Nữu.

Đời thứ 15: Tạ Đình Nữu.

 

Đời thứ 13: Tạ Giá tức Ngung. Trương tuần. Sinh Tạ Trị.

Đời thứ 14: Tạ Trị.

 

Đời thứ 13: Tạ Bôn. Sinh Tạ Phúc.

Đời thứ 14: Tạ Ngũ Phúc.

 

Đời thứ 8: Cụ Tạ Đình Khuê (con thứ 3 cụ Trật). Nho sinh, Thập lý hầu. Sinh cụ Định, cụ Tam, cụ Trinh.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Định. Sinh cụ Nhuệ (không có con giai).

Đời thứ 9: Cụ Tạ Tam. Sinh cụ Vạn.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Vạn. Sinh cụ Miên, cụ Khái.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Miên. Lính cơ. Sinh Tạ Bổng.

Đời thứ 12: Tạ Bổng. Hương đồ. Sinh Tạ Lộc, Tạ Phụng đều không có con.

Đời thứ 11: Tạ Khái. Sinh Tạ Khánh, không có con giai.

 

Đời thứ 9: Cụ Tạ Chinh. Sinh cụ Biên.

Đời thứ 10: Cụ Tạ Biên. Sinh cụ Nguyên.

Đời thứ 11: Cụ Tạ Nguyên. Phó lý. Sinh Tạ Uân, Tạ Trinh.

Đời thứ 12: Tạ Uân. Sinh Tạ Ty.

Đời thứ 13:Tạ Ty. Lý hào. Sinh Tạ x Tiếu, Đắc Chúng, x Tuyền.

Đời thứ 14: Tạ Xuân Tiếu. Văn phòng UB Xã. Sinh Tạ Tuyến.

                   Tạ Đắc Chúng

                   Tạ X Tuyền

 

Đời thứ 12: Tạ Trinh. Sinh Tạ Tường, Tạ Tín.

Đời thứ 13: Tạ Tường tức Cát. Cán bộ Thống kê tỉnh. Sinh x Tô.

Đời thứ 13: Tạ Tín. Cán bộ B. D. H. V. xã.

 

Đời thứ 7: Cụ Tạ Đình Thụy (con thứ 2 cụ Phát Khoa). Tước Phấn Dũng Tướng quân, Bá hộ. Sinh cụ Điển, cụ Chương (cụ Điển không có con giai)

Đời thứ 8: Cụ Tạ Đình Chương. Tự thừa. Sinh cụ Kỷ.

Đời thứ 9: Cụ Tạ Kỷ. Sinh cụ Song, cụ Sơn, cụ Hội. Cụ Song và cụ Hội không có con giai.

(Còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét