Chủ Nhật, 14 tháng 5, 2023

Cuốn Gia phả bằng chữ Quốc ngữ (5)

(Tiếp theo và hết)

Văn kỷ niệm

Bài này do ông Tạ Đức Bản vâng mạnh Tôn trưởng trong họ soạn ra. Nay nhân tục biên Gia phả, tôi sao chép vào cuối, để tiện sự tra cứu. Trong bài này tôi có mạn phép sửa chữa và bớt bỏ mấy chỗ, để trọng vẻ tôn nghiêm và đúng phần thực tế hơn. Hương hồn ông Bản có biết chắc cũng mỉm cười nơi chín suối!

* * *

Cụ Sơ Hoàng Thuỷ Tổ

Sách có câu: “Nhân bản hồ tổ”

Công gây dựng muôn thuở còn truyền

Thái bình hương hoả vạn niên

Diễn bài kỷ niệm một thiên lưu đề

Đức tổ xưa vốn quê Giang tả

Tiếng “Ô Y” Vương, Tạ, Nguyễn, Đào

Á Đông lừng lẫy xiết bao

Hai nhà Vương, Tạ giá cao quý quyền

(Họ Vương sau đổi là họ Lê)

Cờ Đô hộ một phen thống trị

Xứ An Nam phải lệ thuộc Tàu

Hai ông thâm kết cùng nhau

Phất cờ “Chiêu mộ” bắc cầu Lĩnh Nam

Đường Thái, Lạng quan san chẳng ngại

Chí tang bồng hồ hải xông pha

Trúc mai sum họp một nhà

Cửa Sung khẩn trị sơn hà tỉnh Thanh

Làng Diêm Phố nổi danh từ đó

Áng tử phần hoa có tốt tươi

Nhà liền nóc, chợ đông người

Nước non mới mẻ muôn đời thêm xuân

Trải năm tháng sinh lan, đẻ huệ

Chen chúc nhau ai dễ đo lường

Cháu con đông đúc nhẽ thường

Đất đai nguyên cũ, ruộng nương có ngần

Dân đông đúc có phần chật hẹp

Cách sinh nhai nghề nghiệp quan hoài

Ngư ông mượn thú cõi ngoài

Tìm nơi phong cảnh ương nòi văn minh

Lê Lang với Tạ Ninh hai cụ

Lại nối theo chí cũ ông cha

Di dân lập ấp vùng xa

Vì con, vì cháu mưu cơ lâu dài

Miền Lân hải là nơi rộng rãi

Cờ Chiêu mộ cứng cỏi ra tay

Hai ông nào ngại chông gai

Đào sông, lấn bể dùi mài tấm thân

Trải mưa nắng bao phần mỏi mệt

Cách vun trồng chẳng tiếc công phu

Chăng dây cắm mốc trì khu

Đắp đê giữ nước phá gò bồi sa

Nhà nổi nóc hàng ba, hàng bẩy

Ruộng thành bờ từng dãy, từng khu

Bao la ruộng đất mịt mù

Cỏ hoa đua nở, giang hồ thông lưu

Đường thuỷ đạo đã tiêu chua chát

Lúa hai mùa lại được phong niên

Lấy làng Diêm Phố đặt tên

Gọi là Trình Phố Diêm Điền hai tên

Dân đâu đấy đội ân phúc trạch

Cõi hoang vu đã sạch bụi trần

Cụ thời y học tinh thần (Lê)

Cụ thời nông giới ân cần tấm thân (Tạ)

Lòng hai cụ Tấn - Tần hợp một

Nguyện muôn đời tâm cốt tương thân

Ca dao bình phẩm mấy vần

Ninh (Tạ), Lang (Lê) hai cụ lần lần gặp nhau

(Tục truyền có câu: “Ông Nỉnh ông Ninh ra đến đầu đình thì gặp ông Lang, Ông Lảng ông Lang, ra đến đầu làng thì gặp ông Ninh”).

Đức tổ ta đứng đầu dân tráng

Việc binh lương giữ khoán đình, điền

Hương thôn kính ái một niềm

Quan trên cũng chuộng, dân em cũng vì

Giòng tử đệ nhiều bề tế mỹ

Thềm chí lan lắm vẻ phi phương

Cháu con tỏ mặt phi thường

Chói chang Hầu, Bá, rỡ ràng non sông

Cụ trăm tuổi đèn hồng rực rỡ

Xứ Đông Lang long mã tàng hình

Mới hay sơn thuỷ hữu tình

Phần phong chính bắc rành rành chân long

Huyệt Bến Sặt trùng trùng sơn thuỷ

(Nhà Tướng Địa có câu: “Diêm Điền huyệt tại Bến Sặt”)

Mộ tổ bà đất để Hậu Lang

Hình ô hướng bắc rõ ràng

Tạ, Lê hai mộ một hàng thanh thanh

Nhời ngạn ngữ: “An Ninh họp chợ

Đất Diêm Điền họ Tạ có quan”

(Tục truyền câu: “An Ninh hữu thị, Tạ thị hữu quan. Đông Hướng hữu chung, Lê thị anh hùng”, nghĩa là An Ninh có chợ thì họ Tạ có quan; Đông Hướng có chuông thì họ Lê anh hùng)

Mới hay sơn thuỷ bão hoàn

Họ Tạ, họ Lê hai phương cùng kỳ.

 

Cụ tổ đời thứ 2: Tạ Đình Đô

Thừa phúc tổ cụ nhì nối nghiệp

Gánh giang sơn giữ việc nhà nông

Dấu son óng ánh điểm hồng

Tước Quan viên phụ Sắc phong một hàng

Ngoài viện sách thanh đan hai chữ

Sắc phong Hầu con thứ bảnh bao

Nền phúc hậu, bậc tài cao

Thơm tho hoa nở, ngọt ngào hương đưa.

Cụ tổ đời thứ 3: Tạ Đình Đoan

Nối gót cha móc mùa nhuần thấm

Tổ ba đời phúc ấm hà sa

Đèn giời sáng rực cỏ hoa

Con hiền, cháu thảo một nhà cân đai

 

Cụ tổ đời thứ 3: Tạ Đình Chiêm

Nhờ tài đức quan giai nhẹ bước

Nên phấn vua, lộc nước rồi rào

Đô chỉ huy xứ đương trào

Đường đường chức cả quyền cao rõ ràng

Phụng sứ mệnh đi sang Tây Vực

Lại có công nên được phong Hầu

Còn nhiều hưởng thụ về sau

Móc mưa tưới rộng thấm sâu một nhà

Đã gia tặng mẹ cha quan tước

Lại hai con cũng được tập phong

Một nhà mũ tía, đai hồng

Bóng linh rợp đất, tiếng đồng rậy sân

Hoa kiều mộc hương lân thơm nức

Phấn Hoàng ân trang sức mặn mà

Nghìn năm danh tiết chẳng nhoà

Cỏ cây tươi tốt sơn hà vẻ vang

Hình mãnh hổ Đoài Lang tiếp phúc

Đất chính long khô mộc nẩy chồi

Chanh vanh sơn bão thuỷ hồi

Án coi chính án, đường coi chính đường

“Đức Thánh cậu”

Cơn sóng bạc Cần vương thống tiễn

Lĩnh gươm vàng Đức cậu Tạ Công

Bụi trần quét sạch như không

Chức phong Đại tướng sân rồng sắc ban

Tài thao lược đảm đang mọi nhẽ

Khí anh hùng sức khoẻ ai đang

Ném trâu qua róng lạ thường

Câu văn chầu hát một phương tụng truyền

Sống, anh hùng giẹp yên lũ thỏ

Thác, thần thiêng ủng hộ đàn dân

Khí thiêng khi đã về thần

Sắc phong bản xã phúc thần anh linh

Vua Khải Định tứ tuần đại khánh

Sắc bách thần đế mệnh ban ra

Tặng phong Đức tổ họ nhà

“Trung, Hưng, Dực, Bảo” quốc gia tôn thần

Ngôi đình Chính đồng dân bái ngưỡng

Người bốn thôn vui hưởng ngàn xuân

Sinh vi Tướng, tử vi Thần

Vậy trong tộc phả muôn phần kính tôn

 

Cụ tổ đời thứ 4: Tạ Đình Thiều

Quyền thống lĩnh mầu son phê phó

Hầu Thiều dương cụ tổ thứ tư

Sơn hà rạng vẻ đế cư

Đỉnh Hồng gió mát, sông Lô sóng bằng

Cây ngọc thụ nẩy măng tươi tốt

Giữ nghiệp nhà nối gót ông cha

Cành vàng lá ngọc rườm rà

Môn lư phiệt duyệt, sơn hà phong quang

 

Cụ tổ đời thứ 4: Tạ Ngọc Quỳnh

Cụ Ngọc Quỳnh cũng hàng tứ thế

Tước phong Hầu nghiệp kế gia thanh

Lý, đào hai vẻ đua xanh

Một nhà Hầu tước thanh danh trên đời

Lăng phần cụ phong nơi cát địa

Đất Thánh từ có anh linh

Lý, ngư hí thuỷ hữu tình

Văn chương hoành phát tài đinh rành rành.

 

Cụ tổ đời thứ 4: Tạ Ngọc Lưu

Nền thế đức theo anh dóng dả

Hầu Lưu long chức cả quyền long

Vẻ vang con cháu tiên rồng

Xôn xao ty trúc hội đồng quân quan

Nhà Khanh Tướng vinh quang mọi nhẽ

Cội chi lan lắm vẻ phân phương

Mầm hồng một đoá kinh hương

Xênh xang ngọc bội, rỡ ràng kim môn.

 

Cụ tổ đời thứ 5: Tạ Đình Lạng

Cung long mã bước dồn từng bước

Sắc vua phong Hầu tước Lạng hoằng

Đường mây nhẹ bước thung thăng

Toàn gia thực lộc đẩu thăng vững vàng

Trên gác tía giang san rạng vẻ

Dưới thềm lan thi lễ đêm ngày

Ba cành đan quế xinh thay!

Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần

Tôn lăng Cụ phong phần Đại hiếu

Phượng triều dương ấy kiểu hướng Nam

Tằng phong điệp hiến kỳ quan

Án tiền thuỷ nhiễu, sơn hoàn bao la.

 

Cụ tổ đời thứ 5: Tạ Chính Thống

Theo gót anh, em đà có chí

Sắc phong Hầu Thống lý bảnh bao

Lầu hoa ty trúc xôn xao

Anh em tán tía, võng đào nghênh ngang

Đường sĩ hoạn quan sang phỉ chí

Khí anh hào vó ký thẳng dong

Phong lưu phú quý một giòng

Hương bay mười dặm, nguyệt lồng ba cây.

 

Cụ tổ đời thứ 6: Tạ Đình Hân,

Tạ Đình Trọng

Hoa lan ngọc thơm lây giòng giõi

Tổ sáu đời nghiệp nối ông cha

Son vua, phấn nước mặn mà

Cụ Hân, cụ Trọng ngọc ngà trâm anh

Sắc khâm phụng rành rành Nam tước

Phúc rồi rào lại được hai ông

Hạt thông lại nở ra thông

Bốn mùa tươi tốt trùng trùng quả hoa.

 

Cụ tổ đời thứ 6: Tạ Đình Trân

Trường Cử sĩ phát khoa cụ Hiệu

Bảng triều Lê quý hiệu Thanh Điền

Sôi kinh, nấu sử một niềm

Vang chuông bể học, dại đèn làng văn

Nền giáo dục khuyên răn tự Cụ

Chốn trường văn dẫn dụ đàn con

Một nhà khoa bảng luôn luôn

Mầu lam tươi sắc, nét son đặm mùi

Vườn Đan Quế theo đòi họ Đậu

Dưới thềm lan năm cậu, năm cô

Trước đèn nghĩa huấn nhỏ to

Gương nhuần sắc nước, phấn tô vẻ giời.

 

Cụ tổ đời thứ 6: Tạ Ngọc Hoàn

Quan Điển mục trong coi súc mục

Sở Hưng Yên tiếng nức xa gần

Súc sinh sinh sản bội phần

Cũng là ích nước, lợi dân vẹn tuyền.

 

Cụ tổ đời thứ 6: Tạ Trường Sách

Ngoài mười dặm vỗ yên dân chúng

Tổng An Bồi nhất thống quy mô

Anh hào lẫm liệt quyền hô

Oanh lăng líu lưỡi, yến co quẩn nhời

 

Cụ tổ đời thứ 6: Tạ Đình Tài

Cụ Đình Tài hơn đời thao lược

Tập tước Hầu theo được gót ông

Đường đường Đội trưởng quân công

Kiếm cung thỏa chí anh hùng xưa nay

Trên điện quế hương bay ngũ phúc

Dưới buồng đào rượu chúc tam đa

Huệ, lan sực nức một nhà

Đào vừa phai thắm, sen đà nẩy xanh.

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Ngọc Hồ

Khoa văn học Hiệu sinh chiếm bảng

Bẩy đời truyền khoa hoạn thơm danh

Đuốc hồng rạng vẻ đai cân

Mày râu tỏ mặt thư sinh trên đời.

 

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Ngọc Ru

Đường hoan lộ thảnh thơi nhẹ bước

Cụ Ru đường Nam tước tập phong

Lam bào mặn vẻ núi sông

Hoa quan choi chói một giòng sĩ lang.

 

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Đình Trật

Nhà khoa hoạn vẻ vang Cụ bẩy

Chức Huyện thừa lừng lẫy Thuý Vân

Cầm đường ngày lại thêm xuân

Dưới đèn giại tỏ trước sân tam hoè.

 

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Đình Thụy

Quyền Bá hộ thêm bề phấn lực

Sức Cửu trùng lĩnh chức Tướng quân

Một đời dễ có mấy thân

Cờ đào chỉ ngọn ba quân trong ngoài.

 

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Ngọc Ruyến

Phó thủ hợp - tổng tài - sự vụ

Chữ Duyên Bình hiệu cụ hơn đời

Bộ đường bút án thảnh thơi

Trung thành một mực trong ngoài như in

Lòng từ ái Hoàng thiên bất phụ

Phúc hà sa thuỳ dụ hậu nhân

Cỏ hoa tươi tốt muôn phần

Vườn xuân đầm ấm bẩy cành nở nang.

 

Cụ tổ đời thứ 7: Tạ Đình Lộc

Huyện Khang Lộc vẻ vang trọng nhậm

Chức Huyện thừa nức tiếng thanh liêm

Lòng băng, dạ tuyết còn truyền

Cũng là phúc trạch gia tiên rồi rào.

 

Cụ tổ đời thứ 8: Tạ Đình Kiêu

Chánh Đội trưởng quyền trao Bá hộ

Từng ghi công Trướng hổ bao lần

Sắc phong Phấn dũng tướng quân

Thật là giòng giõi Hầu quân tám đời.

Cụ tổ đời thứ 8: Tạ Đình Mạo

Nhà quý hiển thảnh thơi ấm thụ

Bậc hào hoa con cụ Thuý Vân

Đường mây nhẹ bước thanh lân

Huyện thừa nối gót nghiêm quân sẵn sàng

Chuông bể hoạn khua vang thôn dã

Trống làng văn dóng dả ba Hầu

Quản huyền vang dậy trước sau

Khoa danh nổi tiếng, Khanh Hầu vinh thân.

 

Cụ tổ đời thứ 8: Tạ Đình Xuân

Triều Mẫn đế xuất thân Lang tướng

Chí phò vua khí tượng hơn đời

Gặp cơn sóng gió tơi bời

Trèo non, vượt bể xa xôi quản gì

Cụ Lân dương yêu vì sức khoẻ

Hội cửa Trà phò đế xuất bôn

Đường cù, dặm liễu nước non

Trung trinh một dạ sắt son tấc lòng.

Cụ tổ đời thứ 8

Hiệu sinh: Tạ Đình Hiệu, Tạ Đình Hạo, Tạ Đình Đức,

Cai hợp: Tạ Đình Tuần,

Huyện thừa: Tạ Đình Vĩnh, Tạ Đình Đoán

Nhà cụ Quế vốn giòng khoa hoạn

Khoa Mậu tài chiếm bảng ba ông

Văn chương thanh giá lạ lùng

Đăng khoa ba cháu với ông một nhà

Nhờ phúc ấm toàn gia vô bạch

Lại Huyện thừa đặc cách ba ông

Nghênh ngang võng tía ngựa hồng

Hoa tươi dắt mũ sắc lồng mùi lam

Lầu hoa ngọc văn chương đàm tiếu

Trật thăng quan chẳng thiếu trong ngoài

Cụ Thừa, cụ Thiếu, cụ Cai

Một nhà sáu cụ quan giai lần lần.

 

Cụ tổ đời thứ 8: Tạ Đình Khang

Liền gốc quế nẩy mầm tuấn tú

Cũng một giòng cháu cụ Phát Khoa

Huyện thừa lựa khúc cầm ca

Đèn giời giãi tỏ một nha dân tình.

 

Cụ tổ đời thứ 8: Tạ Đình Sen

Chiều Minh mạnh ông Vành lấn cõi

Cụ Tiền cai cứng cỏi ra tay

Mai đình mười dặm hương bay

Lòng dân uy phục gót mây nhẹ nhàng

Cửa Ba Lạt sóng dàn trắng xát

Bãi cồn Tiền quân giặc sấm vang

Mưu thần chước quỷ ai đang

Ngoài thông cùng giặc, trong toan với Triều

Chước trá hàng Cụ mưu cùng giặc

Giặc tin lòng nên mắc mưu thần

Triều đình khao thưởng ban ân

Liễu hoa Nam tước thêm phần bảnh bao.

 

Cụ tổ đời thứ 9: Tạ Đình Duyên

Tiến công lang chức trao Huyện vụ

Chức đời truyền cháu cụ Ru đường

Kim Sơn huyện thự đường đường

Giãi đèn bút án, tỏ gương dân tình.

 

Cụ tổ đời thứ 9: Tạ Đình Tước

Kim long điện Thiếu Khanh bổ dụng

Mậu lâm lang danh vọng một thời

Cũng nhờ tiên tổ tài bồi

Cho nên con cháu đời đời giầu sang.

 

Cụ tổ đời thứ 9: Tạ Đình Thiệu

Em cụ Thiếu văn chương xuất thế

Nghiệp thi thư kế thế khoa trường

Rừng nho rạng vẻ văn chương

Mậu tài liền chiếm bảng vàng triều Lê.

 

Cụ tổ đời thứ 9: Tạ Xưng

Quyền Cai tổng san Khê nhất thống

Hội Thái Bình dân tổng yên vui

Sân mai vóc tuyết đượm mùi

Hơi đồng chẳng nhuộm tanh hôi tấc lòng

Coi dân tổng một giòng lông cánh

Đối quan trên sẵn tính trung thành

Công minh quyết đoán rõ rành

Việc đời chẳng vướng mối manh chút tình

Cánh đồng đò quan Rinh bắt nhượng

Cụ khăng khăng giữ vững cho làng

Cõi bờ mốc cắm, giây chăng

Ruộng làng huyết mạch ngàn năm vững bền.

 

Cụ tổ đời thứ 9: Tạ Ngọc Rư

Đời cụ Hậu gây nền ấm phúc

Giữ quyền dân gặp lúc thăng bình

Hương bay ngào ngạt dặm phần

Bốn mùa hoa quả một sân lý đào

Ngoài hương lý công lao xiết kể

Chốn gia đình có vẻ tôn nghiêm

Công phu chẳng ngại bạc tiền

Từ đường kính phụng Tổ tiên một toà.

Cụ tổ đời thứ 10: Tạ Bằng

Trường Hương thí mở khoa cống tuyển

Chốn rừng nho nổi tiếng văn chương

Câu văn nét bút lạ thường

Tình thâm một cửa bảng vàng chiếm khoa.

 

Cụ tổ đời thứ 10: Tạ Ngọc Suý

Con cụ Hậu tài hoa xuất thế

Chốn khoa trường cũng kế nghiệp ông

Văn chương tuyệt bút lạ lùng

Mười đời nổi tiếng nho phong con nhà

Chức Tổng giảng ông đã tuyên dụ

Phụng huấn điều khuyên nhủ dân gian

Đội ơn Thánh trạch chứa chan

Văn phong đâu đấy mở mang dần dần

 

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Bồi

Tài học hải xa gần nức tiếng

Kế ba khoa liền chiếm Tú tài

Bộ Công bang biện đặc sai

Đời truyền mười một anh tài có ông.

 

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Tất Đạt

Chí cả ép trong vòng tài đức

Đường công danh chen bước gian nan

Âu đành Hương lý tiến thân

Anh hùng tuỳ với giang san của mình

Trên việc quan thừa hành đắc lực

Dưới dân làng bách nặc nhất hô

Mấy lần tắm gội móc mưa

Đến hàm Chánh Bát phẩm to nhất làng

Vị Tiên chỉ nghênh ngang chiếu nhất

Ba mươi năm kể thật lâu dài

Xã nhà từ trước đến nay

Vẫy vùng ngang dọc dễ ai sánh bằng.

 

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Xuân Mậu

Được bổ dụng Thái Bình thơ lại

Nhưng ít lâu nghĩ lại chán chường

Công danh ngại bước đường trường

Trở về vườn cũ tìm đường doanh sinh

Nhiều mánh khóe, lại sành tính toán

Cày cấy quen, buôn bán cũng hay

Lại nhờ vận đỏ hồi may

Ruộng sâu, trâu nái, sân xây, nhà lầu

Từng mấy độ đào ao, vượt thổ

Lập dinh cơ cho đủ các con

Bóng dâu khi xế về hôm

Lại chăm công việc Tổ tiên, họ hàng

Dựng: xây nếp Từ đường rộng rãi

Dựng: đồ thờ các loại sắm sanh

Qui lăng hợp táng Tiên linh

Khỏi phần thất lạc, trọn tình truy tư.

 

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Quang

Ngoài dặm liễu dân cư vui vẻ

Dưới Tụng đường nhời nhẽ công minh

An Bồi một giải thênh thênh

Móc mưa đầm ấm trước sân Mai đình.

 

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Ngọc Điến

Tài Tú sĩ nổi danh học rộng

Dương tôn sư cũng trọng vì tài

Người khen rằng: Chữ của thày

Cả trường gánh nặng, chưa bài hết cho

Nhưng hiềm nỗi văn, thơ, từ, phú

Hay cầu kỳ điển cố xa xôi

Câu văn đẽo gọt dũa mài

Tham dùng nhiều chữ viết dài miên man

Văn thiếu vẻ gọn gàng bình dị

Nơi trường thi chưa dễ hơn ai.

Quả nhiên nhời nói không không sai

Lao đao trường ốc dùi mài uổng công

Bất đắc chí trong vòng khoa đệ

Quay sang đường Tổng lý khuây khoa

Vốn là văn học bước ra

Dân làng vị nể, quan đà cũng yêu

Nhân cơ hội có chiều êm ả

Xin đổi thay tên xã Diêm Điền

Thư Điền từ đấy đổi tên

Nghe ra văn vẻ, mịn nền hơn xưa

Nhân những lúc công dư nhàn hạ

Lại tục biên gia phả họ nhà

Cũng là nối chí chú, cha

Tìm tòi, tra xét kể đà tinh vi

Mới điền bổ khuyết nghi mấy chỗ

Để nghìn sau được rõ ràng hơn

Suốt đời ngậm nỗi căm hờn

Tài cao, phận thấp duyên văn bẽ bàng.

  

Cụ tổ đời thứ 11: Tạ Xuân Đán

Hiệu liêm chính cũng hàng vai cánh

Giữ quyền dân sẵn tính liêm thanh

Lòng phiếm ái, dạ thân nhân

Sân hòe nguyệt giãi, dặm phần hương bay

Nền tử lý ra tay gây dựng

Áng Gia đình lại đứng sửa sang

Nào quán xã, nào đình làng

Nào nhà tế tổ trang hoàng một phen

Còn tại thế hoa sen đang toả

Tới cảnh tiên phúc quả lại dành

Mấy nhời ký chúc đinh ninh

Suất tiền nộp cả thuế đinh thôn Đoài.

 

Đời thứ 12: ông Tạ Quốc Thưởng

Buổi niên thiếu ngoài hai mươi tuổi

Sóng Vũ môn đua đuổi với đời

Hai khoa liền đỗ Tú tài

Sắc phô cây ngọc, hương bay dặm phần

Thấy danh lợi nhiều phần bó buộc

Nên thờ ơ chen bước cửa quyền

Bạc bài mượn thú giải phiền

Cho khuây thế sự, cho quên tháng ngày

Cũng lắm lúc cảm hoài, tức cảnh

Nhiều văn thơ ngâm vịnh còn truyền

Tiền đồ nghĩ đến thiếu niên

Trường làng có một, trẻ em thì nhiều

Khuyên dân xã mở theo trường nữa

Để con em có chỗ học hành

Ao tù sen mọc tươi xanh

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

*  *  *

Nhớ ơn nghĩa tổ tôn sâu nặng

Dựng cõi này đằng đẵng ngàn thu

Có cổ thụ, có san hồ

Có đền kỷ niệm, có chùa tụng kinh

Dân bốn thôn văn minh rực rỡ

Lúa hai mùa hoa nở tốt tươi

Phong lưu phú quý đời đời

Cành kia cội nọ xa vời biết bao

Người cố lý xôn xao oanh yến

Kẻ tha hương quyến luyến phụng hoàng

Diêm Trì, Tân Lạc, Tiểu Hoàng

Đông Thành, Hải Nhuận vẻ vang nhường nào

Những nơi ấy phong trào liền cõi

Cứ hàng năm giòng giõi tầm tông

Khắp miền Nam, Bắc, Tây, Đông

Chân giời mặt biển phái giòng xa khơi

Làng tử lý là nơi đất tổ

Gánh giang sơn đừng đổ cho ai

Bể còn rộng, sông còn dài

Soi gương đề tạo kẻo hoài công phu

Nhà hợp tự mới tu rộng rãi

Lăng qui phần một giải thênh thênh

Này khám hội, này long đình

Này chuông phúc quả, này bình lư hương

Đồ bát biểu, giá gương mới chế

Cờ ngũ hành, khí tế bằng đồng

Tả, chiêu, hữu mục ung dung

Từ thời bát tiết hội đồng tế chung

Công đức ấy, giống giòng tự đấy

Non sông này lừng lẫy đã lâu

Đời đời Khanh, Tướng, Công, Hầu

Giang sơn tỏ mặt mày râu một nhà

Chữ rằng: “Phúc trạch hà sa”.

 

Ngày tháng trọng Xuân

Năm thứ 11 triều Bảo Đại

Cháu đời thứ 12

Đức Bản

Chi Diêm Trì vâng mệnh

Tôn trưởng trong họ

Kính soạn.

(Cập nhập: 19 tháng Hai năm 2026)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét